Khuyến cáo mới nhất của CDC về 7 loại vắcxin phổ biến nhất hiện nay

hoangocthanh

New member
Tham gia
13/11/18
Bài viết
11
Thích
0
#1
1.Vắcxin viêm gan B

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh, cả trai lẫn gái, nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Số liều: 3.
Thời gian các mũi tiêm: ngay lúc mới sinh; từ 1 đến 2 tháng tuổi; và từ 6 đến 18 tháng tuổi.
Những lưu ý đặc biệt: vắcxin viêm gan B nhằm bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh viêm gan B truyền qua máu. Viêm gan B là căn bệnh gây xơ gan, một tình trạng trong đó mô sẹo thay thế mô khỏe dẫn đến suy gan và ung thư gan. Siêu vi viêm gan loại B lây truyền qua máu hoặc các chất dịch khác của cơ thể. Tại Mỹ có 1,25 triệu người bị bệnh viêm gan b mãn tính. 36% những người này bị nhiễm bệnh ngay từ khi còn nhỏ. Có tới 25% người nhiễm bệnh ở độ tuổi sơ sinh đã chết khi trưởng thành vì vậy việc tiêm phòng vắcxin đặc biệt quan trọng.


2. Vắcxin bạch hầu, ho gà và uốn ván (DTaP)

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi đối tượng
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số liều: 5.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 15 đến 18 tháng tuổi; từ 4 đến 6 tuổi.
Lưu ý đặc biệt: DPT là vắcxin kết hợp chống lại ba bệnh truyền nhiễm ở người là bạch hầu, ho gà và uốn ván. Các thành phần vắcxin bao gồm bạch hầu độc tố uốn ván và giết chết toàn bộ tế bào của vi khuẩn gây ho gà. Ho gà là căn bệnh rất dễ lây lan, gây ho kéo dài từ hai tuần trở lên, kèm theo nôn mửa. Ho gà nguy hiểm nhất ở trẻ sơ sinh và có thể dẫn đến viêm phổi, tổn thương não, co giật và tử vong.

Việc chủng ngừa DTaP có hiệu quả từ 80 - 89% thời gian nên có thể hiểu ngay cả khi một người được chủng ngừa, vẫn có thể bị nhiễm bệnh ho gà. DTaP cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể chống bệnh bạch hầu và uốn ván. Bệnh bạch hầu xuất hiện khi cổ họng trong một lớp phủ dày và dẫn đến tê liệt, suy tim, và các vấn đề hô hấp. Uốn ván là nguyên nhân gây co thắt cơ bắp, đặc biệt là đầu và cổ, vì vậy nó được gọi là thủ phạm gây khít hàm”.

Việc chủng ngừa vắc xin sẽ giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh, nên tiêm phòng theo khuyến cáo nói trên, hoặc từ năm 11 tuổi trở ra, sau đó cứ 10 năm tiêm một mũi tiếp.

3. Vắcxin Hemophilus influenzae type B (Hib)

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 3 hoặc 4 (tùy thuộc vào vắcxin được sử dụng).

Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 12 đến 15 tháng tuổi.

Lưu ý đặc biệt: Hemophilus influenzae type B (Hib), hay còn gọi là vắcxin Hib, được sử dụng ngăn ngừa bệnh Haemophilus influenzae týp b (Hib). Có thể dùng riêng(chỉ có Hib) hoặc kết hợp với các loại vắcxin khác. Vi khuẩn Hib lây lan qua không khí và khi nhiễm HIb có thể gây viêm màng não (nhiễm trùng dịch và niêm mạc não và tủy sống); viêm thanh quản và viêm phổi.

4. Vắcxin cộng hợp phế cầu khuẩn (PCV13)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người; nhóm người lớn từ 65 tuổi trở lên dùng một liều khuyến cáo duy nhất.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 4.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi; từ 12 đến 15 tháng tuổi.
Lưu ý đặc biệt: PCV13 bảo vệ cơ thể chống lại bệnh phế cầu khuẩn. Ở trẻ nhỏ, bệnh phế cầu khuẩn có thể gây viêm màng não, nhiễm trùng máu phế cầu khuẩn. Còn ở người cao tuổi có thể gây viêm phổi. Cụ thể hơn, vắcxin PCV13 có thể bảo vệ chống lại 13 loại vi khuẩn phế cầu khuẩn. Nếu trẻ chưa được chủng ngừa PCV13 có thể bị viêm màng não do phế cầu khuẩn (gây tử vong cho khoảng 10% trẻ mắc bệnh), vì vậy chủng ngừa theo khuyến cáo là rất quan trọng. Viêm màng não phế cầu khuẩn cũng có thể gây mù và điếc. Mặc dù mọi người có thể mắc bệnh phế cầu khuẩn, nhưng trẻ dưới hai tuổi, người trên 65 tuổi, người hút thuốc và những người có sức khỏe yếu là nhóm có rủi ro cao nhất. Do kháng thuốc nên kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh phế cầu khuẩn ít hiệu quả hơn, do vậy tiêm chủng lại càng quan trọng hơn.

5. Vắcxin bại liệt bất hoạt (IPV)

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 4.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; từ 6 - 18 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.
Đường dùng: tại Mỹ vắcxin này chuyển sang tiêm từ năm 2000 còn ở các nước khác uống qua đường miệng.
Lưu ý đặc biệt: đại đa số những người bị nhiễm bệnh bại liệt không hề có triệu chứng. Dưới 2% số người bị bại liệt, hoặc nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương có thể dẫn đến liệt vĩnh viễn. Tại Mỹ trong nhiều thập kỷ trở lại đây không có người bị bại liệt nhưng CDC vẫn khuyến khích tất cả trẻ em cần được chủng ngừa IPV để phòng tránh nguy cơ bùng phát bệnh bại liệt lây lan từ các vùng có dịch.
6. Vắcxin ngừa Rotavirus

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 2 hoặc 3 tùy thuộc vào thực tế.

Thời gian (cho trường hơp 3 liều): 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi
Đường dùng: đường miệng.
Lưu ý đặc biệt: vắcxin ngừa Rotavirus giúp bảo vệ cơ thể chống lại rotavirus, thủ phạm gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em. Hiện có hai loại vắcxin rotavirus khác nhau đã được bảo chế nhằm cải thiện tình trạng vệ sinh nhưng không loại bỏ hoàn toàn được căn bệnh này. Rotavirus là nguyên nhân phổ biến gây tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ em trên toàn thế giới, riêng tại Mỹ có từ 2 - 3 triệu ca mắc bệnh, 60.000 ca nhập viện và tỉ lệ tử vong từ 20 - 60 ca.

7. Vắcxin ngừa sởi, quai bị, rubella (MMR)

Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 12 tháng tuổi.
Số lượng liều: 2.
Thời gian: 12 tháng; 15 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.
Đường dùng: tiêm.
 
Top Bottom